LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển như vũ bão của CNTT đã tác động mạnh mẽ và to lớn đến mọi
mặt đời sống kinh tế xã hội. Ngày nay, CNTT đã trở thành một trong những
động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Với khả năng số hoá mọi loại thông
tin (số, đồ thị, văn bản, hình ảnh, tiếng nói, âm thanh...), máy tính trở thành
phương tiện xử lý thông tin thống nhất và đa năng, thực hiện được nhiều chức
năng khác nhau trên mọi dạng thông tin thuộc mọi lĩnh vực: nghiên cứu, quản
lý, kinh doanh...
Những ứng dụng của CôngNghệ Thông Tin trong lĩnh vực quản lý là những
ứng dụng vô cùng quan trọng. Nó không những giải phóng công sức cho những
người quản lý mà còn đem lại sự chính xác và nhanh nhạy trong quản lý. Là
một sinh viên của khoa Công Nghệ Thông Tin, trong lần thực tập tốt nghiệp
này, em rất vui mừng khi mình được giao đề tài xây dựng ứng dụng Quản lý
sinh viên.
Ứng dụng Quản lý sinh viên gồm có 5 module là Quản lý thông tin sinh
viên (theo từng khóa, từng khoa và theo từng lớp học). Thông tin sinh viên sẽ
được quản lý và sắp xếp theo họ tên, ngày tháng năm sinh, tùy thuộc vào lựa
chọn của người quản lý. Ngoài ra với chức năng tìm kiếm sinh viên theo tên,
lớp và khóa sẽ giúp cho người quản lý dễ dàng có được thông tin cần thiết.
Chức năng quản lý điểmsẽ cho phép người quản lý nhập điểm cho sinh viên
và cũng cung cấp công cụ cho phép họ có thể sửa chữa cũng như cập nhật điểm
cho sinh viên khi có nhu cầu, Quản lý khen thưởng/kỷ luật, cho phép ban
giám hiệu quyết định khen thưởng hay kỷ luật một sinh viên đang theo học tại
trường, Thống kê sinh viên, cho phép ban giám hiệu có được những thông tin
về sinh viên một cách trực quan và đầy đủ nhất, Tìm kiếm thông tin sinh viên,
cho phép ban quản lý có được thông tin vềsinh viên một cách nhanh chóng.
2
Phần 1
KHẢO SÁT HỆ THỐNG
1. Khảo sát nghiệp vụ
Hệ thống quản lý sinh viên trong các trường Đại Học và Cao Đẳng thông
thường gồm các ba quy trình nghiệp vụ chính đó là Xử lý nhập học, Xử lý
nhập điểm,Xử lý Thống kê, Xử lý tìm kiếm
Xử lý nhập học, được thực hiện khi sinh viên nhập học, người quản lý sẽ
nhập thông tin về sinh viên vào hệ thống đểquản lý. Các thông tin này được lưu
trữ và có thểđược thay đổi trong suốt thời gian theo học tại trường.
Xử lý nhập điểm, đây là quy trình nghiệp vụ thường xuyên được sử dụng.
Kết thúc mỗi kỳ học, giảng viên giảng dạy báo cáo danh sách điểm về cho
phòng đào tạo (đơn vị sử dụng hệ thống) tiến hành nhập vào hệ thống để quản
lý. Các thông tin về điểm của sinh viên sẽ được lưu trữ suốt trong quá trình học
và có thể được thay đổi (có kèm theo văn bản) nếu có quyết định từ ban quản lý
hay từ giảng viên giảng dạy.Kết quả sẽ được đánh giá theo tiêu chí sau:
+ Lên lớp khi điểm trung bình trong năm học >=5.0 và tổng số học trình
có điểm dưới 5 nhỏ hơn hoặc bằng 15
+ Xếp loại xuất sắc khi: 10>= điểm trung bình năm >=9.0 và không có
môn nào có điểm dưới 5.
+ Xếp loại giỏi khi: 9.0 > điểm trung bình năm >=8.0 và không có môn
nào có điểm dưới 5.
+ Xếp loại khá khi: 8.0 >điểm trung bình năm >=7.0
+ Xếp loại trung bình khá khi:7.0 >điểm trung bình năm >=6.0
+ Xếp loại trung bình khi: 6.0 > điểm trung bình năm >=5.0
+ Xếp loại yếu khi: 5.0 >điểm trung bình năm >=3.0
+ Xếp loại kém khi: điểm trung bình năm <3.0
Xử lý thống kê, Trong quá trình quản lý sinh viên, người quản lý có thể có
được những thông tin mang tính khái quát tổng kết về tình hình sinh viên của
một lớp hay một kháo nhờ chức năng Thống kê và báo cáo. Thống kê và báo
3
cáo sẽ giúp người quản lý có được kết quả học tập của sinh viên trong một lớp
bất kỳ.
Xử lý tìm kiếm, trong khi quản lý chức năng tìm kiếm là  một chức năng
thường xuyên được sử dụng.
Ngoài ra hệ thống còn có các quy trình nghiệp vụ khác được sử dụng để
phục vụ cho các nghiệp vụ trên như quản lý các thông tin về các khoa, quản lý
các thông tin vềlớp học, quản lý các thông tin về môn học…
2. Khảo sát về công nghệ phát triển.
Ngày 13/02/2002, Microsoft chính thức giới thiệu bộ công cụ lập trình mới
của mình – Visual Studio .NET. Sau 4 năm không cho ra phiên bản mới cho bộ
Visual Studio 98.
Trong thời đại công nghệ thông tin, dữ liệu trở nên quan trọng đến nỗi
người ta mong muốn tất cả mọi thứ như điện thoại di động, máy tính xách tay,
các máy PDA (Personal Digital Assistant) đều phải kết nối với nhau để chia sẻ
dữ liệu và việc sử dụng các phần mềm để quản lý, sử dụng những dữ liệu đó là
“không biên giới”. Ứng dụng phải sẵn sàng để sử dụng từ trên máy tính cũng
như trên điện thoại di động 24/24 giờ, ít lỗi, xử lý nhanh và bảo mật chặt chẽ.
Các yêu cầu này làm đau đầu những chuyên gia phát triển ứng dụng khi
phần mềm chủ yêu s viết cho hệ thống này không chạy trên một hệ thống khác
bởi nhiều lý do như khác biệt về hệ điều hành, khác biệt về chuẩn giao tiếp dữ
liệu, mạng.
Sun Microsystems đi đầu trong việc cung cấp giải pháp với Java. Java chạy
ổn định trên các hệ điều hành Unix hay Solaris của Sun từ máy chủ tới các thiết
bị cầm tay hay thậm chí trên các hệ điều hành Windows của Microsoft (một ví
dụ rõ rangđó là hầu hết các điện thoại di động thế hệ mới đều có phần mềm viết
bằng Java). Kiến trúc lập trình dựa trên Java Bytecode và thi hành trên máy ảo
Java (JVM – Java Virtual Marchine) cho phép các ứng dụng Java chạy trên bất
cứ hệ điều hành nào. Mô hình lập trình thuần hướng đối tượng của Java giúp
các lập trình viên tùy ý sử dụng lại và mở rộng các đối tượng có sẵn.
Vì ra đời khá muộn so với Java, .NET bị coi là khá giống với bậc “tiền bối”
cả nó. .NET sử dụng kỹ thuật lập trình thuần hướng đối tượng như Java và cũng
thi hành trên một máy ảo là CLR (Common Language Runtime).
Bộ thư viện của .NET Framework bao gồm hơn 5000 lớp đối tượng đủ sức
hỗ trợ hầu hết các yêu cầu từ phía lập trình viên. Công nghệ mã nguồn mở được
4
đưa vào .NET thay cho COM và DCOM đang được các lập trình viên của
Microsoft sử dụng. Với COM, những thành phần (COMponent) đã được xây
dựng như các lớp thư viện hay các control chỉ có thể sử dụng lại.  Bạn không
thể mở rộng chúng hay viết lại cho thích hợp với ứng dụng của mình. Trong
.NET, mọi thành phần đều có thể kế thừa và mở rộng, một kỹ thuật mới được
đưa ra thay cho COM là Assembly. Distributed Component hay DCOM là kỹ
thuật dùng để phối hợp các thành phần trên nhiều máy tính giờ đây được thay
thế trong .NET bởi chuẩn công nghệ mới là SOAP và XML Web Service.
Cùng với SOAP (Simple Objects Access Protocol), XML Web Service mở
rộng khả năng của DCOM từ chỗ chỉ phối hợp các máy trong Intranet, nằm sau
Firewall ra Internet. Các công ty .com giờ đây mặc sức xây dựng các phần mềm
độc lập của mình những vấn đề có thểphối hợp với nhau đểđem tới khách hang
các dịch vụ e-commerce đa dạng nhưng thống nhất.
XML (eXtended Markung Language) – chuẩn lưu trữ và trao đổi dữ liệu
mới nhất, hiệu quả nhất hiện nay cũng được .NET hỗ trợ khá đầy đủ. Các dữ
liệu dù ở bất cứ dạng lưu trữ nào cũng có thể chuyển về dạng XML để sử dụng
trong các ứng dụng mới hay trao đổi với hệ thống ứng dụng khác. .NET cũng sử
dụng kỹ thuật truy cập cơ sở dữ liệu mới là ADO.NET để bổ sung cho kỹ thuật
ADO – trước kia vốn là thành phần mạnh nhất trog MDAC (Microsoft Data
Access Component gồm 3 phần DB-Lib, OLEDB và ADO).
Về Hệ quản trị CSDL trong những năm gần đây cũng không có sự thay đổi
mang tính chất đột phá. Chiếm lĩnh hầu hết các thị phần vẫn là các hệ quản trị
nổi tiếng như SQL Server của Microsoft, Oracle của Oracle và My SQL.
3. Lựa chọn giải pháp
Xuất phát từ các yêu cầu của một hệ thống xây dựng trên nền tảng WEB
BASE. Hệ thống sử dụng các giải pháp sau để phát triển:
∙ Môi trường phát triển: ASP.NET
∙ Ngôn ngữ lập trình: C# .NET
∙ Hệquản trị CSDL: Microsoft SQL 2000
5
Phần 2
THIẾT KẾ HỆ THỐNG
I. Mô tả các chức năng
+ Quản lý khóa học: Việc này thường được tiến hành vào đầu mỗi khóa học,
người quản lý phải định nghĩa ra một khóa học mới. Quản lý khóa học cũng cho
phép người quản lý thay đổi thông tin về khóa học như sửa thông tin hay cũng
có thểxóa một khóa học không hợp lệ.
+ Quản lý danh mục khoa: Sau khi định nghĩa khóa học, người quản lý sẽ
định nghĩa các danh mục khoa mà nhà trường đào tạo trong khóa học đó. Quản
lý danh mục Khoa cung cấp các công cụ giúp cho người quản lý có thể thay đổi
các thông tin về các khoa đã tồn tại trong danh sách khoa như sửa thông tin hay
xóa một khoa hiện có.
+ Quản lý danh mục lớp: Cho phép định nghĩa ra các lớp để phân lớp cho
các sinh viên. Việc phân nhóm theo lớp sẽ giúp cho việc quản lý sinh viên theo
lớp thêm thuận tiện.
+ Quản lý thông tin sinh viên: Thông tin sinh viên là thông tin chính mà
người quản lý cần phải quản lý. Thông tin này được nhập vào đầu mỗi khóa học
và sẽ có thểđược cập nhật trong suốt năm học khi có biến động.
+ Quản lý điểm sinh viên: Cho phép quản lý điểm thi của sinh viên. Quản lý
điểm cũng cho phép tính điểm trung bình sau khi ra trường của sinh viên bằng
cách nhân hệ số và tính trung bình các điểm của sinh viên sau từng năm.
+ Quản lý sinh viên tốt nghiệp: Cho phép quản lý danh sách các sinh viên đã
tốt nghiệp. Việc xét tốt nghiệp cho sinh viên cũng có nghĩa là đưa sinh viên đó
ra khỏi danh sách sinh viên cần quản lý. Tuy nhiên thông tin của sinh viên này
vẫn sẽ tồn tại trong hệ thống.
+ Thống kê báo cáo: Hệ thống sẽ thống kê về sinh viên như danh sách các
sinh viên được lên lớp hay danh sách sinh viên không đạt một môn học nào đó.
+ Tìm kiếm thông tin: Cho phép tìm kiếm thông tin về một sinh viên, một
lớp hay một khóa học bất kỳ.
II. Biểu đồ phân cấp chức năng

Comments/disqusion
1 nhận xét